Bất Ngờ Số Tỉnh Bang Của Canada?

Canada có tất cả bao nhiêu tỉnh bang? Bạn sẽ bất ngờ với số tỉnh bang của đất nước Canada?

Nếu bạn đang có kế hoạch du học hoặc định cư tại Canada thì thông tin các tỉnh bang của đất nước này là điều không thể bỏ qua. Vấn đề mà không ít du học sinh quan tâm là Canada có bao nhiêu bang? Và đặc điểm của mỗi bang là gì để có thể quyết định điểm đến du học phù hợp? Hôm nay hotrocanada.com sẽ cùng mọi người tìm hiểu thông tin này nhé.

 

Đất nước Canada có tất cả 10 tỉnh bang và 03 vùng lãnh thổ.

   Bao gồm: Ontario, Québec, Nova Scotia, New Brunswick. Manitoba, British Columbia, Prince Edward Island. Saskatchewan, Alberta, Newfoundland and Labrador. Northwest Territories, Yukon, Nunavut.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2466″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”ontario” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
1. Ontario là một tỉnh bang của Canada. Thác Niagara nổi tiếng thế giới và Ottawa, thủ đô của Canada, nằm trong địa phận tỉnh bang này.

Phía đông Ontario giáp với Québec, tây giáp với Manitoba, bắc giáp với vịnh Hudson và vịnh James, nam giáp với sông St. Lawrence và Ngũ Đại Hồ. Là tỉnh bang lớn thứ hai của Canada, Ontario có diện tích gần 1,1 triệu km², trên nửa triệu ao hồ, và 60.000 km sông ngòi. Tính toàn bộ, Ontario lớn hơn hai nước Pháp và Tây Ban Nha gộp lại và có dân số trên 10 triệu người. Ở thủ phủ Toronto có nhiều hoạt động kinh tế và văn hoá. Ví dụ, tháp CN (CN tower) là công trình kiến trúc đứng riêng cao nhất thế giới cho đến năm 2007.

Tên Ontario thường được cho là bắt nguồn từ tiếng Iroquois, Skanadario, có nghĩa là “Dòng nước đẹp”.

Ontario – Tỉnh bang sầm uất, phát triển, sôi động nhất Canada và Bắc Mỹ về kinh tế với các thành phố lớn như Toronto và Ottawa… Theo số liệu thống kê năm 2012, GDP của Canada đạt 1.819.967 triệu CAD. Trong đó, Ontario đóng góp 674.485 triệu CAD. Ontario đã tạo ra 37% GDP của cả nước và là nơi có gần 50% dân số làm việc trong các ngành công nghệ cao, dịch vụ tài chính và công nghiệp tri thức khác.

Nằm trong khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ với 460 triệu người và tạo ra sức mua 18 tỉ đô.

Trong năm 2011, trao đổi thương mại giữa Canada – Mỹ đạt hơn 1,4 tỉ CAD, trong đó thương mại giữa Ontario – Mỹ chiếm khoảng 716 triệu đô CAD. Ontario – nơi có Toronto (trung tâm tài chính quốc gia), thủ đô lập pháp Ottawa đã tiếp đón hơn 1.100 các công ty đa quốc gia trong các lĩnh vực dịch vụ, tài chính, bất động sản trên toàn thế giới.

Toronto là một trung tâm quốc tế lớn cho các doanh nghiệp và được coi là thủ đô tài chính của Canada.

Nơi đây tập trung các công ty dịch vụ hàng đầu như: Citco, CIBC Mellon, Commonwealth, Harmonic, IFDS, RBC Investor Services, SGGG, and State Street. Với hơn 245.000 người làm việc trong lĩnh vực này, Toronto là trung tâm tài chính lớn thứ 3 ở Bắc Mỹ sau New York và Chicago. Lao động trong ngành dịch vụ tài chính tại Toronto chiếm 64% của Ontario và 31% của Canada.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2498″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”quebec” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
2. Québec (tiếng Anh: Quebec; phát âm là kê-béc, không phải là qué-béc).

Québec có diện tích gần 1,5 triệu km² – tức là gần gấp 3 lần nước Pháp hay 7 lần xứ Anh – và là tỉnh bang lớn nhất của Canada tính về diện tích. Quebec có tư cách là một quốc gia trực thuộc Canada, với ngôn ngữ, văn hoá và thể chế chính trị riêng.

Về phía tây của Québec là tỉnh bang Ontario và vịnh Hudson, về phía đông là tỉnh bang New Brunswick và vùng Labrador (phần đất nội địa của tỉnh bang Newfoundland và Labrador), về phía nam là các tiểu bang Maine, New Hampshire, Vermont và New York của Hoa Kỳ.

Hơn 90% diện tích của Québec nằm trên một nền đá lớn gọi là Canadian Shield.

Chữ québec có nguồn gốc từ chữ gepèèg của người thổ dân Mi’kmaq. Gepèèg có nghĩa là “eo biển”, dùng để ám chỉ chỗ thắt nhỏ lại của sông Saint-Laurent gần Thành phố Québec (tiếng Pháp: Ville de Québec, tiếng Anh: Quebec City).

Hiện nay (2004) hơn 7,5 triệu người đang sinh sống tại Québec (tỉnh bang thứ nhì trong Canada về dân số, sau Ontorio), trong đó 80% tập trung ở các trung tâm đô thị nằm dọc theo sông Saint-Laurent (tiếng Anh: Saint Lawrence). Thành phố Montréal (tiếng Anh: Montreal), với một dân số vào khoảng 3 triệu, là một hòn đảo khá lớn nằm giữa sông Saint-Laurent và rất nổi tiếng về lịch sử, kiến trúc và các hoạt động văn hoá.

Cho đến đầu thập niên 1980, Montréal vẫn còn là thành phố nổi tiếng nhất và đông dân nhất của Canada. Nằm ngay phía bắc của Montréal là thành phố đông dân thứ hai của Québec: Laval.

Thành phố Québec, nằm cách 300 km về phía đông-bắc của Montréal là thủ phủ của tỉnh bang và là thành phố lớn thứ ba.

Ảnh hưởng của văn hóa Pháp và đạo Công giáo làm cho Québec trở thành một vùng đặc thái nhất của Canada, hay có thể nói là của tất cả Bắc Mỹ. Trong tổng số hơn 7,5 triệu dân Québec, trên 5 triệu có gốc Pháp; tiếng Pháp là tiếng mẹ đẻ của 82% dân số.

Từ năm 1970 trở đi, dân nhập cư đã góp một phần quan trọng trong bình diện kinh tế và văn hoá của tỉnh bang này. Từ năm 1986 đến 1991, 78% lợi ích trong dân ở Québec là do những người không phải là Pháp, Anh hay dân bản xứ mang lại.

Ngày 23 tháng 11 năm 2006, Chính phủ Canada đã đưa ra bản đề nghị công nhận Québec là một quốc gia trong Canada (a nation within Canada) nhằm ngăn chặn việc ly khai.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2474″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”nova_scotia” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
3. Nova Scotia là một tỉnh bang thuộc vùng miền đông của Canada.

Đây là một bán đảo nằm nhô ra ngoài Đại Tây Dương với một diện tích khoảng 55.000 km².Tính đến năm 2016, dân số là 923,598. Nova Scotia là tỉnh có mật độ dân số cao thứ hai ở Canada với 17,4 cư dân trên mỗi kilômét vuông (45 dặm vuông).

Nova Scotia là tỉnh nhỏ thứ hai của Canada trong khu vực sau đảo Prince Edward.

Vùng đất liền của tỉnh là bán đảo Nova Scotia bao quanh bởi Đại Tây Dương, bao gồm nhiều vịnh và cửa sông. Không nơi nào ở Nova Scotia cách biển hơn 67 km (42 dặm).

Đảo Cape Breton, một hòn đảo lớn ở phía đông bắc của đại lục Nova Scotia, cũng là một phần của tỉnh.

Cũng như Đảo Sable , một hòn đảo nhỏ nổi tiếng vì đắm tàu, cách chừng 175 km (110 dặm) Bờ biển phía nam của tỉnh.

Nova Scotia có nhiều hình thành đá hóa thạch cổ. Những hình dạng đặc biệt phong phú trên bờ Vịnh Fundy. Blue Beach gần Hantsport , Joggins Fossil Cliffs , nằm trên bờ Vịnh Fundy , đã mang lại một lượng lớn các hóa thạch cổ Carbon . Wasson’s Bluff, gần thị trấn Parrsboro , đã mang lại cả hóa thạch tuổi Triassic và Jurassa .

Tỉnh có 5.400 hồ.

Nova Scotia nằm ở khu vực trung du. Kể từ khi tỉnh này bao phủ gần biển, khí hậu gần với biển hơn so với khí hậu lục địa . Mùa đông và mùa hè nhiệt độ cực đoan của khí hậu lục địa bị kiểm duyệt bởi đại dương.  Tuy nhiên, mùa đông vẫn còn lạnh, đủ để được phân loại là lục địa – vẫn còn gần điểm đông hơn so với nội địa ở phía tây.

Khí hậu Nova Scotia theo nhiều cách tương tự như bờ biển Baltic trung tâm ở Bắc Âu, chỉ có mưa và tuyết.

Mặc dù Nova Scotia có khoảng mười lăm dãy núi phía Nam. Những khu vực không có bờ biển Đại Tây Dương trải qua những mùa hè ấm áp hơn thường thấy ở các khu vực nội địa, và mùa đông hạ thấp hơn một chút.

Được mô tả trên tấm giấy phép xe của tỉnh dưới dạng Sân chơi Ocean của Canada, Nova Scotia được bao quanh bởi bốn vùng nước chính: Vịnh Saint Lawrence về phía bắc, Vịnh Fundy về phía tây, Vịnh Maine về phía tây nam, và Đại Tây Dương về phía đông.

GDP bình quân đầu người của Nova Scotia trong năm 2010 là 38.475 đô la, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân bình quân đầu người của quốc gia là 47.605 đô la và ít hơn một nửa của tỉnh giàu nhất Canada, Alberta.

Tăng trưởng GDP đã tụt hậu so với phần còn lại của đất nước ít nhất là trong thập kỷ qua.

Nova Scotia của nền kinh tế dựa trên nguồn tài nguyên truyền thống đã đa dạng trong những thập kỷ gần đây. Sự nổi lên của Nova Scotia như là một thẩm quyền hữu hiệu ở Bắc Mỹ, theo lịch sử, là do sự sẵn có của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các loài cá ngoài khơi Scotian Shelf . Ngành đánh cá là một trụ cột của nền kinh tế kể từ khi nó được phát triển như một phần của New France vào thế kỷ 17.

Tuy nhiên, ngành đánh bắt cá bị suy giảm nghiêm trọng do đánh bắt quá mức vào cuối thế kỷ 20. Sự sụp đổ của các cổ phiếu cá tuyết và sự đóng cửa của ngành này đã làm mất khoảng 20.000 việc làm vào năm 1992.

Các ngành khác trong tỉnh cũng bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là trong hai thập kỷ qua: khai thác than ở Cape Breton và phía bắc lục địa Nova Scotia gần như ngừng sản xuất, và một nhà máy thép lớn ở Sydney đã đóng cửa trong những năm 1990.

Gần đây, giá trị cao của đồng đô la Canada so với đô la Mỹ đã ảnh hưởng đến ngành công nghiệp lâm nghiệp, dẫn đến việc đóng cửa nhà máy bột giấy và xay giấy ở gần Liverpool .

Khai thác khoáng sản, đặc biệt là thạch cao và muối, và silica , than bùn và barit ít hơn cũng là một ngành quan trọng.

Từ năm 1991, dầu và khí ngoài khơi. Đã trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế mặc dù sản xuất và doanh thu đang giảm.  Nông nghiệp vẫn là một lĩnh vực quan trọng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là ở các thung lũng Annapolis .

Khu vực quốc phòng và hàng không vũ trụ của Nova Scotia tạo ra doanh thu khoảng 500 triệu đô la Mỹ và đóng góp khoảng 1,5 tỷ đô la cho nền kinh tế tỉnh mỗi năm.

Ngô đang phát triển tại Grafton ở thung lũng Annapolis vào tháng 10 năm 2011

Cho đến nay, 40% tài sản quân sự của Canada cư trú tại Nova Scotia.  Nova Scotia có thứ tư lớn nhất ngành công nghiệp phim ở Canada lưu trữ hơn 100 tác phẩm hàng năm, hơn một nửa trong số đó là các sản phẩm của nhà sản xuất phim và truyền hình quốc tế.

Năm 2015, chính phủ Nova Scotia loại bỏ tín dụng thuế để sản xuất phim trong tỉnh, gây nguy hiểm cho ngành công nghiệp với hầu hết các khu vực pháp lý khác tiếp tục cung cấp tín dụng như vậy.

Cánh đồng ngô ở  Grafton, thung lũng Annapolis. Nova Scotia.

Ngành du lịch Nova Scotia bao gồm hơn 6.500 doanh nghiệp trực tiếp, hỗ trợ gần 40.000 việc làm.  200.000 hành khách tàu thủy từ khắp nơi trên thế giới chảy qua Cảng Halifax , Nova Scotia mỗi năm.  Ngành này đóng góp khoảng 1,3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm cho nền kinh tế.

Tỉnh cũng có sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) bao gồm hơn 500 công ty, và sử dụng khoảng 15.000 người. Năm 2006, khu vực sản xuất đã mang lại hơn 2,6 tỷ đô la cho GDP, sản lượng lớn nhất của bất kỳ ngành công nghiệp nào ở Nova Scotia.  Michelin vẫn là nhà tuyển dụng duy nhất trong ngành này, vận hành ba nhà máy sản xuất trong tỉnh.

Vào năm 2012, thu nhập gia đình trung bình ở Nova Scotia là 67.910 đô la Mỹ, thấp hơn mức trung bình toàn quốc là 74.540 đô la;  ở Halifax con số tăng lên 80.490 đô la.

Tỉnh là nơi xuất khẩu cây thông Noel,tôm hùm,thạch cao,và quả mọng hoang giã nhiều nhất thế giới.Giá trị xuất khẩu cá của tỉnh vượt quá 1 tỷ USD, và các sản phẩm cá được 90 quốc gia trên thế giới nhận.

Tuy nhiên, nhập khẩu của tỉnh vượt xa xuất khẩu. Trong khi con số này gần như bằng nhau từ năm 1992 đến năm 2004, kể từ đó thâm hụt thương mại đã tăng lên. Năm 2012, xuất khẩu từ Nova Scotia chiếm 12,1% GDP của tỉnh, trong khi nhập khẩu là 22,6%.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2475″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”newbrunswick” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
4. New Brunswick (tiếng Pháp: Nouveau-Brunswick)

Là một tỉnh bang ven biển ở vùng miền đông của Canadavới vốn di sản văn hoá hấp dẫn và phong phú. Nó giáp với Nova Scotia, Québec, và tiểu bang Maine của Hoa Kỳ.

Có hình dáng gần giống hình chữ nhật, nó rộng khoảng 322 km từ bắc xuống nam và 242 km từ đông sang tây.

New Brunswick giáp với mặt nước gần như ba phía, bao gồm vịnh St. Lawrence, eo biển Northumberland và vịnh Fundy. Vịnh Fundy nằm ở cuối phía đông của tỉnh, có mức thuỷ triều lên tới 54 feet (khoảng 49,40 m), lớn nhất thế giới. Dân số New Brunswick khoảng 723.900 người, 35% nói tiếng Pháp, phần lớn là cộng đồng Acadia. 50.000 người sống tại New Brunswick. Acadia ban đầu là thuộc địa của Pháp vào những năm 1500.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2477″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”manitoba” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
5. Manitoba là một trong ba tỉnh bang nằm ở trung tâm của Canada.

Có cùng biên giới với Ontario, Saskatchewanvà Nunavut, phía bắc giáp vịnh Hudson và phía nam giáp Hoa Kỳ.

Hầu hết dân Manitoba có nguồn gốc Anh. Nhưng nhiều thay đổi trong mô hình nhập cư và di trú đã biến tỉnh này là nơi mà không có một sắc tộc nào nổi bật về số lượng.

Có trên 700 tổ chức ở tỉnh này hỗ trợ cho công dân mới và dân nhập cư. Khoảng 60% trong số một triệu người dân Manitoba sinh sống ở thành phố chính Winnipeg, thủ phủ của tỉnh bang này. Thành phố lớn thứ hai là Brandon, ở phía tây nam Manitoba. Tên Manitoba có thể đến từ tiếng Cree manitou bou có nghĩa là “Eo biển hẹp của Thần linh Vĩ đại”. Manitoba cũng là quê hương của Vườn Hoà bình Quốc tế – khu vườn lớn nhất thế giới dành tặng cho hoà bình thế giới.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2478″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”british_columbia” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
6. British Columbia (viết tắt B.C.; tiếng Pháp: la Colombie-Britannique, C.-B.).

Còn được gọi Columbia thuộc Anh, British Columbia là tỉnh bang cực tây của Canada, một trong những vùng có nhiều núi nhất Bắc Mỹ.

Trước thế kỷ 19 tất cả đất đai của British Columbia (kể cả đảo Vancouver) và một phần của tiểu bang Washington của Hoa Kỳ là đất thuộc Công ty Hudson Bay (trao đổi lông thú vật với dân bản xứ).

Vào giữa thế kỷ 19 phần đất phía bắc vĩ tuyến 49 rơi vào tay Đế quốc Anh và được chia ra làm hai thuộc địa: British Columbia (nằm trong lục địa) và Vancouver (nằm ngay trên đảo Vancouver).

Đến năm 1866 hai thuộc địa này sáp nhập với nhau thành British Columbia và 5 năm sau British Columbia được gia nhập vào Liên bang Canada. Do đó British Columbia vẫn giữ tên để giữ truyền thống Anh vì British Columbia có nghĩa là “Columbia thuộc Anh”.

Vì ở cạnh biển, British Columbia được xem là cửa ngõ để đến Thái Bình Dương và Á Châu.

Về phía đông của B.C. là tỉnh bang Alberta, về phía bắc là hai lãnh thổ tự trị Yukon và các Lãnh thổ Tây Bắc, về phía tây-bắc là tiểu bang Alaska, về phía nam là các tiểu bang Washington, Idaho và Montana của Hoa Kỳ.

British Columbia tận hưởng một khí hậu tương đối ôn hoà do dòng nước biển Gulf Stream mang nước ấm từ Xích đạo lên, hoa thường thường nở vào đầu tháng 2. Nằm giữa Thái Bình Dương và dãy Rocky Mountains là những vùng địa lý hoàn toàn khác nhau của B.C.: từ núi đá nhọn và cao hơn 2.000 m đến các thung lũng ấm áp vừa đủ để trồng nho làm rượu, từ những con sông hùng vĩ uốn mình giữa các ngọn núi dẫn nước của băng đá ra biển đến vô số các vịnh dọc theo bờ biển được tạo ra khi sóng đập vào bờ đá.

British Columbia liên tục thu hút các dân định cư, trong cũng như ngoài nước: hàng năm khoảng 40.000 người định cư ở đây, và dân số của B.C. hiện nay (2005) vào khoảng 4,22 triệu người.

Thành phố Vancouver là hải cảng lớn nhất bên bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và cũng là nơi tập trung của trên 1,5 triệu người, trở thành thành phố lớn thứ ba của Canada (sau Toronto và Montréal). Vancouver có một cộng đồng người Hoa lớn thứ hai ở Bắc Mỹ (sau San Francisco).

Ngoài ra còn có trên 60.000 cư dân gốc Ấn Độ và trên 16.000 gốc Nhật Bản.

Nằm ở đầu phía nam của đảo Vancouver, chỉ 85 dặm về hướng tây bắc của Seattle, là thủ phủ Victoria. Hơn 300.000 dân của thủ phủ này hưởng một khí hậu cận Địa Trung Hải với thời tiết ôn hoà quanh năm. Chính phủ và ngành du lịch là hai nền kinh tế chính ở Victoria.

Có 14 khu vực công viên và khu vực bảo vệ trong tỉnh, có 141 dự trữ sinh học, 35 công viên biển cấp tỉnh, 7 khu di sản cấp tỉnh, 6 địa chỉ lịch sử cấp quốc gia, 4 công viên quốc gia và 3 Khu bảo tồn công viên quốc gia. 12.5% (114.000 km2 (44.000 sq mi)) của British Columbia đang được coi là khu vực cần được bảo vệ nằm trong 14 khu vực công viên.

British Columbia có 7 công viên quốc gia:

• Công viên Quốc gia Glacier

• Khu dự trữ công viên quốc gia Gulf Islands

• Khu dự trữ công viên quốc gia Gwaii Haanas và Khu di sản Haida

• Công viên Quốc gia Kootenay

• Công viên Quốc gia Mount Revelstoke

• Công viên Quốc gia Pacific Rim

• Công viên Quốc gia Yoho

British Columbia cũng có mạng lưới rộng các công viên cấp tỉnh, điều hành bởi B.C. Parks thuộc Bộ Môi trường. Hệ thống công viên cấp tỉnh của British Columbia là hệ thống công viên lớn thứ hai của Canada (lớn nhât là Hệ thống Công viên QUốc gia Canada).

Một cấp công viên khác là công viên cấp vùng, duy trì và điều hành bởi các huyện.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2480″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”prince_edward_island” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
7. Đảo Hoàng tử Edward (tiếng Anh: Prince Edward Island, viết tắt: PEI; tiếng Pháp: l’Île-du-Prince-Édouard).

Là một tỉnh bang của vùng miền đông của Canada. Đây là tỉnh bang nhỏ nhất của Canada theo diện tích và dân số, được đặt theo tên của Hoàng tử Edward Augustus, Công tước của Kent và Strathearn của Anh. Nó nằm trong một hình chữ nhật nằm khoảng 46-47° vĩ độ bắc và 62-64°30′ kinh độ tây.

Lịch sử Canada vẫn sống mãi và được kỷ niệm ở Charlottetown. Hội nghị Charlottetown vào năm 1864 là cuộc họp đầu tiên để cuối cùng đã dẫn đến việc tuyên bố tự trị của Canada vào năm 1867.

Do cuộc họp này, thành phố Chalottetown ngày nay được biết đến như là nơi khai sinh ra Liên bang. Prince Edward Island chỉ dài 280 km vì thế thật quá dễ dàng để khám phá từng ngõ ngách hay xó xỉnh. Đất đai màu mỡ và khí hậu ôn hoà đã tạo cho Đảo Hoàng tử Edward trở thành một nơi lý tưởng cho việc trồng trọt hỗn hợp.

Phân nửa số đất của nó được dành cho trồng trọt đã mang lại cho nó một cái tên riêng Tỉnh nhà vườn.

Nó nổi tiếng về vùng đất đỏ, những đồi cát và 800 km bãi biển. Năm 1991, dân số Đảo Hoàng tử Edward là 130.000, Charlottetown có số dân 33.000 là trung tâm đô thị duy nhất của đảo này. Dân số của Đảo Hoàng tử Edward còn khá trẻ, khoảng 38% dưới 25 tuổi. Vào ngày 31 tháng 5 năm 1997, Hoàng tử Edward đã cử hành lễ khánh thành chính thức chiếc Cầu Liên bang. Chiếc cầu dài 12,9 km bắc qua eo biển Northumberland đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc lưu thông từ đất liền đến đảo này, ngoài phương tiện phà và máy bay.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2481″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”saskatchewan” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
8. Saskatchewan là một tỉnh bang miền tây của Canada.

Và là một trong ba tỉnh bang của vùng Prairie. Saskatchewan được phong cho danh hiệu là vựa lúa mì của Canada nhờ các thảo nguyên và các cánh đồng lúa mì bạt ngàn. Đây cũng là một trong những nơi tập trung nhiều khoáng sản nhất của Canada, đặc biệt là dầu mỏ và trữ lượng uranium nhiều nhất thế giới.

Saskatchewan có chung biên giới với Manitoba, Alberta, Northwest Territories và Hoa Kỳ. Tỉnh bang này có hình dáng gần giống hình chữ nhật với diện tích 651.900 km².

Địa hình Saskatchewan hầu như rất bằng phẳng, chỉ có một số ít các đồi thấp, cộng thêm vị trí nằm sâu trong đất liền nên khí hậu lạnh hơn các tỉnh bang khác (không tính các lãnh thổ tự trị phía Bắc).

Mùa đông nhiệt độ thường xuống đến -50 °C, tuyết rơi rất dày, gió mạnh và buốt, lại hay có bão tuyết. Do đó mà dân số Saskatchewan rất khiêm tốn, vào khoảng 1 triệu, hay 3,6% dân số Canada. Người Saskatchewan đến từ nhiều nền văn hoá dân tộc khác nhau, đó là lý do tại sao khẩu hiệu của tỉnh là Sức mạnh đến từ nhiều dân tộc.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2482″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”alberta” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
9. Alberta là một tỉnh miền Tây Canada.

Với thủ phủ là Edmonton và thành phố lớn nhất là Calgary. Ngoài ra, tỉnh còn có các thành phố khác như Airdrie, Banff, Red Deer, Lethbridge và Medicine Hat.

Theo cuộc điều tra dân số vào 2011, thì dân số của Alberta vào khoảng 3.645.257, là hành tỉnh có tổng dân số lớn nhất 3 tỉnh prairies của Canada. Tình là một trong hai tỉnh duy nhất của Canada không giáp biển.

Trên hình thức, người đứng đầu tỉnh Alberta là tỉnh trưởng (Lieutenant-Governor) Don Ethell, do Toàn quyền Canada bổ nhiệm làm người đại diện của Nữ hoàng Canada tại tỉnh Alberta. Người nắm quyền hành pháp trên thực tế là Thủ hiến (premier) của Alberta, hiện tại là bà Alison Redford thuộc Đảng bảo thủ cấp tiến Alberta.

Alberta được đặt theo tên của Công chúa Louise Caroline Alberta (1848-1939), là con gái thứ tư của Nữ hoàng Victoria.

Công chúa còn là vợ của Sir John Campbell, vốn là Toàn quyền Canada từ 1878-1883. Hồ Louise cũng được vinh dự mang tên của công chúa này.

Biểu tượng chính thức của tỉnh Alberta là hoa hồng dại (Rosa acicularis). Những người nói tiếng Anh dùng từ “Albertan” để chỉ cư dân sinh sống tại tỉnh này.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2483″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”newfoundland_and_labrador” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
10. Newfoundland and Labrador ( /nʲuːfənˈlænd ænd ˈlæbrədɔr/, tiếng Pháp: Terre-Neuve-et-Labrador) là tỉnh cực đông của Canada.

Tỉnh này thuộc khu vực Đại `Tây Dương của Canada, gồm đảo Newfoundland và phần lãnh thổ Labrador tại đại lục, tổng diện tích là 405.212 kilômét vuông (156.500 sq mi). Năm 2013, dân số tỉnh ước tính là 526.702.[2] Xấp xỉ 92% dân số toàn tỉnh cư trú trên đảo Newfoundland (cùng các đảo nhỏ xung quanh), trong đó hơn một nửa cư trú tại bán đảo Avalon. Đây là tỉnh đồng nhất số một về ngôn ngữ tại Canada, với 97,6% cư dân tường trình tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ trong điều tra nhân khẩu năm 2006.[3]

Tỉnh lỵ và thành phố lớn nhất của Newfoundland và Labrador là St. John’s, là khu vực đô thị thống kê lớn thứ 20 tại Canada, và là nơi cư trú của gần 40% cư dân trong tỉnh. Tại St. John’s có trụ sở của chính phủ, nghị viện và tòa án tối cao cấp tỉnh.

Lãnh thổ Newfoundland và Labrador ngày nay từng là một thuộc địa và một quốc gia tự trị của Anh Quốc, gia nhập và trở thành một tỉnh của Canada vào ngày 31 tháng 3 năm 1949 với tên gọi Newfoundland. Ngày 6 tháng 12 năm 2001, một sửa đổi Hiến pháp Canada được tiến hành để chuyển tên chính thức của tỉnh thành Newfoundland và Labrador.[4] Tuy nhiên, người Canada nói chung vẫn gọi tỉnh bằng tên Newfoundland.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2484″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”northwest_territories” z_index=””][vc_column][vc_empty_space][vc_column_text]
11. Các Lãnh thổ Tây Bắc (tiếng Anh: Northwest Territories, phát âm tiếng Anh: /ˌnɔrθˌwɛstˈtɛrɨtɔriz/, viết tắt NWT hay NT; tiếng Pháp, les Territoires du Nord-Ouest) là một lãnh thổ của Canada.

Nằm ở Bắc Canada, lãnh thổ này tiếp giáp Yukon về phía tây, Nunavut về phía đông (hai lãnh thổ khác của Canada), British Columbia về phía tây nam, Alberta về phía nam và Saskatchewan về phía đông nam. Lãnh thổ này có diện tích 1.140.835 square kilometres (440.479 sq mi) và dân số 41.464 theo cuộc điều tra dân số Canada 2006, tăng 11,0% so với năm 2001. Thủ phủ của lãnh thổ này là Yellowknife từ năm 1967.

Đặc điểm địa lý

Các đặc điểm nổi bật về địa lý của lãnh thổ này có các hồ Gấu Lớn và hồ Slave Lớn cũng như sông Mackenzievà các hẻm núi sông Nahanni, một vườn quốc gia đồng thời là một di sản thế giới được UNESCO công nhận. Quần đảo Bắc Cực bao gồm đảo Banks, bán đảo Parry, đảo Prince Patrick, và các vùng thuộc đảo Victoria và đảo Melville. Điểm cao nhất là núi Nirvana gần giáp với Lãnh thổ Yukon với độ cao 2.773 mét (9.098 ft).

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2486″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”yukon” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
12. Yukon ( /ˈjuːkɒn/; phát âm tiếng Pháp: [jykɔ̃]).

Là lãnh thổ liên bang nhỏ nhất và xa nhất của Canada (hai lãnh thổ khác là Các Lãnh thổ Tây Bắc và Nunavut). Yukon có mật độ dân số rất thưa thới với chỉ 35.000 trên diện tích gần nửa triệu km2. Whitehorse là thủ phủ và thành phố duy nhất của Yukon.

Lãnh thổ này được tách ra từ Các Lãnh thổ Tây Bắc năm 1898 và được đặt tên là “Lãnh thổ Yukon”. Đạo luật Yukon của chính phủ liên bang nhận, được hoàng gia phê chuẩn ngày 27 tháng 3 năm 2002, xác định “Yukon” là tên chính thức của lãnh thổ này, tuy vậy, “Lãnh thổ Yukon” vẫn được dùng phổ biến và Bưu chính Canada vẫn cho phép sử dụng tên viết tắt YT.

Dù có hai ngôn ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp), Chính phủ Yukon cũng công nhận những ngôn ngữ First Nations (những ngôn ngữ thổ dân).

Núi Logan cao 5.959 m (19.551 ft) tại Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Kluane, là núi cao nhất Canada và cao thứ nhì tại Bắc Mỹ (sau Denali tại bang Alaska, Hoa Kỳ). Đa phần Yukon có khí hậu khi hậu cận Bắc cực, với những đặt điểm như mùa đông dài, lạnh và mùa hè ngắn nhưng ấm. Phần bờ biển Bắc Băng Dương có môi trường đài nguyên.

Những con sông đáng chú gồm sông Yukon, Pelly, Stewart, Peel, White và Tatshenshini.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2487″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” el_id=”nunavut” z_index=””][vc_column][vc_empty_space height=”20″][vc_column_text]
13. Nunavut (từ tiếng Inuktitut: ᓄᓇᕗᑦ [ˈnunavut]; phát âm tiếng Pháp: [nunavy]).

Là lãnh thổ mới nhất, lớn nhất, và xa nhất về phía bắc của Canada. Nó chính thức được tách khỏi Các lãnh thổ Tây Bắc vào ngày 1 tháng 4 năm 1999, qua Đạo luật Nunavut và hiệp định quản lý đất đai Nunavut, dù đường biên giới đã được giải quyết song từ năm 1993. Sự hình thành của Nunavut tạo nên thay đổi lớn đầu tiên trong bản đồ chính trị Canada từ Newfoundland và Labrador được thành lập vào năm 1949.

Lãnh thổ Nunavut chiếm một phần lớn Bắc Canada, và Quần đảo Bắc Cực thuộc Canada.

Thủ phủ Iqaluit (trước “Frobisher Bay”), nằm trên đảo Baffin ở miền đông, được chọn từ cuộc bỏ phiếu 1995. Những điểm dân như đáng kể khác gồm Rankin Inlet và Cambridge Bay. Nunavut cũng gồm đảo Ellesmere ở viễn bắc, cũng như phần phía đông và nam đảo Victoria và đảo Akimiski trong vịnh James xa về phía đông nam.

Đây là vùng địa-chính trị duy nhất của Canada không được kết nối với phần còn lại của đất nước bằng đường lộ.

Nunavut là khu vực có diện tích lớn nhất,là nơi có dân số ít nhất ở các tỉnh và lãnh thổ của Canada. Một trong những khu vực xa xôi nhất, thưa thớt, có dân số 35.944  chủ yếu là người Inuit , trải rộng trên diện tích hơn 1.750.000 km 2 (680.000 dặm vuông),xấp xỉ kích thước của Tây Âu.Một trạm khí tượng cách xa Ellesmere Island, Eureka , có nhiệt độ trung bình năm.

[/vc_column_text][vc_empty_space height=”20″][vc_single_image image=”2488″ img_size=”full” alignment=”center” qode_css_animation=””][vc_empty_space][/vc_column][/vc_row][vc_row css_animation=”” row_type=”row” use_row_as_full_screen_section=”no” type=”full_width” angled_section=”no” text_align=”left” background_image_as_pattern=”without_pattern” css=”.vc_custom_1558431580814{border-top-width: 2px !important;border-right-width: 2px !important;border-bottom-width: 2px !important;border-left-width: 2px !important;padding-top: 10px !important;padding-right: 10px !important;padding-bottom: 10px !important;padding-left: 10px !important;background-color: #fde69a !important;border-left-color: #dd3333 !important;border-left-style: dashed !important;border-right-color: #dd3333 !important;border-right-style: dashed !important;border-top-color: #dd3333 !important;border-top-style: dashed !important;border-bottom-color: #dd3333 !important;border-bottom-style: dashed !important;}” z_index=””][vc_column][vc_column_text]
Chú ý:

Nội dung website cung cấp thông tin hướng dẫn để bạn tham khảo và sử dụng cho nhu cầu cá nhân. Chúng tôi luôn cố gắng đưa ra những thông tin & lời khuyên tốt nhất cho bạn; tuy nhiên, trách nhiệm lựa chọn sử dụng thông tin cuối cùng thuộc về bạn. Các thông tin về số liệu thống kê, các chính sách và thông tin liên quan khác có thể thay đổi hàng ngày bởi các tổ chức của Canada vì vậy để chắc chắn thông tin vui lòng liên hệ chúng tôi để được hỗ trợ cập nhật MIỄN PHÍ. Xin cảm ơn đã chú ý !

[/vc_column_text][/vc_column][/vc_row]

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *